1. Một số thành tích về thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.
1.1. Công tác thu dung, cấp cứu và điều trị:
Cấp cứu điều 7.108 bệnh nhân (BN) trong đó 3000 BN bỏng nặng, rất nặng. Tỷ lệ sử dụng giường: 95% - 100%. Nhiều BN bỏng nặng, rất nặng, có các biến chứng nặng, phức tạp được cứu sống. Nâng cao khả năng cứu sống BN bỏng, đã cứu sống BN bỏng tới 98% diện tích cơ thể (DTCT) trong đó có 80% DTCT là bỏng sâu. Giảm tỷ lệ tử vong còn 1,5 % (thấp nhất từ trước đến nay). Triển khai 5 kỹ thuật lâm sàng, 3 kỹ thuật cận lâm sàng mới trong điều trị. Tiết kiệm và hợp lý trong điều trị. Chú trọng điều trị phục hồi chức năng, phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ sau bỏng. Không có tình trạng BN nằm chung giường. Việc chăm sóc toàn diện cho BN được tăng cường. Không để xảy ra tai biến, sai sót chuyên môn nào đáng kể. Triển khai khu điều trị BN vết thương mãn tính bằng các kỹ thuật và công nghệ mới hiện đại như tế bào, tế bào gốc, hút áp lực âm…điều trị thành công cho gần 300 BN vết thương mãn tính do nhiều nguyên nhân (loét do tiểu đường, do xạ trị ung thư, do tỳ đè, do liệt não, tuỷ…) trong đó có những BN vết thương đã hơn 10 năm.
1. 2. Công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
Năm 2008, đã triển khai 01 đề tài Cấp Nhà nước, 01 dự án sản xuất thử cấp Nhà Nước; 03 đề tài cấp Bộ và 17 đề tài cấp cơ sở. Tập trung vào một số mũi nhọn như: công nghệ tế bào, công nghệ tế bào gốc ứng dụng trong điều trị bỏng, vết thương mãn tính và da liễu thẩm mỹ; nghiên cứu sản xuất các vật liệu sinh học thay thế da tạm thời như trung bì da lợn, tấm nguyên bào sợi đồng loại; nghiên cứu sản xuất thuốc điều trị bỏng từ thảo dược dưới công nghệ nano; kỹ thuật vi phẫu…Hầu hết các đề tài khoa học của Viện đều được ứng dụng triệt để và hiệu quả. Có 70% các thuốc và vật liệu thay thế da sử dụng cho BN tại Viện là do Viện tự nghiên cứu, sản xuất.
1.3. Chỉ đạo tuyến, đào tạo cán bộ chuyên khoa bỏng và y học thảm họa cho cả nước
Hoàn thành tốt đề án 1816 của Bộ Y tế, là đơn vị được Bộ Y tế tặng bằng khen về lĩnh vực này. Viện đã cử được 12 cán bộ xuống các đơn vị, chuyển giao được 05 kỹ thuật cơ bản và 03 kỹ thuật chuyên sâu trong điều trị bỏng cho các tuyến. Hai dự án phòng chống bỏng cho cộng đồng đã được triển khai rất tốt và phát huy hiệu quả tối đa. Đã tổ chức tập huấn cho 800 cán bộ y tế cơ sở của 62 tỉnh thành trong cả nước và cho 500 người lao động ở các nhóm nguy cơ cao. Đã biên soạn và xuất bản được 10.000 tờ rơi; 3.000 poster; 7.000 cuốn sách tranh; 1.000 đĩa DVD; 01 trang web về nội dung tuyên truyền hướng dẫn cộng đồng phòng tránh bỏng và xử lý cấp cứu bỏng. Nhận hơn 1.000 cuộc gọi về các nội dung phòng tránh bỏng và xử lý cấp cứu sau bỏng từ các đường dây nóng. Đào tạo cho 12 bác sỹ, 19 y tá, điều dưỡng. Hoàn thành tốt nhiệm vụ đào tạo của viện thực hành của HVQY, đã đào tạo cho hàng trăm lượt sinh viên, 5 cao học bỏng và 3 nghiên cứu sinh chuyên ngành bỏng.
2. Một số thành tích hướng tới tiêu chí bệnh viện thân thiện vì sức khoẻ cộng đồng
2.1. Môi trường làm việc của bệnh viện
2.1.1. Môi trường bệnh viện thân thiện:
Từ cổng cho đến khu tiếp đón, cấp cứu đều có hệ thống chỉ dẫn rõ ràng, dễ tìm, dễ thấy và dễ hiểu. Hệ thống bảo vệ ở cổng và khu vực trực tiếp đón, cấp cứu luôn thường trực 24/24 giờ. Toàn bộ khu khám, làm thủ tục ra vào viện đều tập trung liên hoàn một chỗ. Thời gian tối đa cho làm các thủ tục không quá 15 phút. Các khoa phòng có hệ thống biển báo chỉ dẫn, có hệ thống bảng điện tử cung cấp các thông tin chi tiết về BN cũng như phát các chương trình truyền thông về sức khoẻ . Tất cả các nơi chờ đợi đều có ghế ngồi. Nhà vệ sinh sạch sẽ, đủ số lượng và luôn mở cửa. Nhân viên y tế luôn vui vẻ, hoà nhã, lễ phép và tận tình vì người bệnh. Triển khai quản lý thu chi viện phí bằng hệ thống mạng máy tính, mọi thủ tục, chi phí của BN đều được công khai minh bạch theo ngày. Giá các dịch vụ y tế, thuốc, vật tư được niêm yết công khai nơi công cộng. BN chỉ nộp tiền tại một đầu mối duy nhất là cơ quan tài chính. Quầy thuốc không tính lãi hoặc lãi suất rất thấp. Viện có đủ hệ thống băng ca, xe chở BN, xe lăn để phục vụ BN và người khuyết tật. Khu điều trị cho trẻ em có nhiều tranh ảnh, đồ chơi, có cả khu vui chơi cho trẻ trong khuôn viên điều trị . Mọi ý kiến thắc mắc hay đóng góp cho viện đều có nơi tiếp nhận, có các hòm thư góp ý , viện luôn duy trì mỗi tuần 1 lần để họp và nghe phản hồi từ BN và gia đình họ. Viện bỏng không bao giờ có tình trạng BN nằm chung giường. Gia đình BN có khu vực nhà trọ dành riêng.
2.1.2. Công sở văn minh, xanh, sạch, đẹp và an toàn:
Viện Bỏng là một trong những bệnh viện có môi trường rộng rãi, thoáng mát, bảo đảm xanh, sạch, đẹp. Mật độ xây dựng rất thấp dưới 35%, có khu vực cho giao thông tĩnh, nhiều cây xanh, vườn hoa, có đài phun nước, ghế đá cho BN và khách, có sân bóng đá và nhà luyện tập phục hồi chức năng. Viện Bỏng là bệnh viện không thuốc lá, tại các khu vực công cộng đều có biển báo không hút thuốc và cảnh báo tác hại của thuốc lá. Mọi bố trí trong viện đều khoa học, hợp lý, dễ thấy, dễ tìm. Tại các khu vực công cộng có các cây nước để bảo đảm nước uống sạch. Nhân viên y tế ăn mặc đẹp, lịch sự văn minh, sạch sẽ, đúng quy định và dễ nhận biết. Viện rất chú trọng về tính an toàn: hệ thống cấp điện an toàn tuyệt đối, các hành lang, ban công đều có hệ thống bảo vệ; hệ thống báo cháy và chữa cháy tự động hiện đại luôn trong trạng thái sẵn sàng hoạt động. Các khu vực thu gom, phân loại xử lý rác thải đúng quy định và ở xa khu điều trị, xa khu vực có người qua lại và cuối hướng gió. Viện có hệ thống xử lý nước thải đủ tiêu chuẩn, nước thải được thu gom xử lý rồi mới đổ ra hệ thống thoát nước chung. Chất thải rắn được thu gom, phân loại và vận chuyển về khu xử lý rác y tế theo quy định. Viện bỏng đã ký hợp đồng với Công ty Hoàn Mỹ suốt 5 năm qua để bảo đảm công tác vệ sinh trong toàn bệnh viện.
2.2. Đánh giá của bệnh nhân và gia đình bệnh nhân về bệnh viện
Viện luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi tối đa để có được thông tin phải hồi từ BN và người nhà. Viện có các hòm thư góp ý công khai. Hàng tuần tổ chức các buổi họp với BN, gia đình BN để nghe ý kiến đóng góp, xây dựng. BN và gia đình có thể gửi các kiến nghị, đóng góp trực tiếp cho ban giám đốc và các cơ quan chức năng của viện. Có phòng tiếp dân để xử lý mọi ý kiến đóng góp phản hồi. Viện đã nhận được hàng trăm ý kiến phản hồi, chủ yếu là thư và ý kiến cảm ơn. Hệ thống đường dây nóng của viện đã nhận được hàng nghìn ý kiến và câu hỏi của cộng đồng. Đặc biệt qua các kỳ kiểm tra bệnh viện của Bộ Y tế, Cục Quân y những thăm dò ý kiến của BN và gia đình cho thấy mức độ hài lòng của BN và gia đình đối với bệnh viện rất cao, luôn đạt mức 98% đến 100%.
2.3. Tỷ lệ sử dụng giường và giảm tải cho bệnh viện
Dù là tuyến cuối của chuyên ngành bỏng nhưng Viện đã làm tốt công việc giảm tải. Nhờ công tác chỉ đạo hỗ trợ tuyến dưới tốt và ưu tiên tối đa cho BN, tỷ lệ sử dụng giường luôn đạt từ 95% - 100% nhưng không bao giờ có tình trạng nằm chung giường. Viện đã tổ chức điều trị ngoại trú tốt cho các BN ở gần, áp dụng các kỹ thuật điều trị cho BN nội trú.
2.4. Các hoạt động chuyên môn dành cho cộng đồng.
Tích cực tham gia vào các hoạt động tuyên truyền sức khoẻ cộng đồng. Viện đã thực hiện 10 chương trình truyền thông về dự phòng bỏng, sơ cứu, cấp cứu bỏng cho cộng đồng. Viện đã tổ chức nhiều đoàn khám bệnh và phát thuốc miễn phí cho nhiều ngườì nghèo ở Quảng Ninh, Sơn La, Thanh Trì Hà Nội, Thanh Lương Hà Nội… với hơn 1000 người được khám và phát thuốc miễn phí. Khám sức khoẻ cho tất cả 245 cán bộ nhân viên trong viện. Khám sức khoẻ định kỳ, phát thuốc miễn phí cho gần 100 gia đình thương binh, liệt sỹ, gia đình có công. Hỗ trợ khoảng 100 triệu đồng bằng thuốc men, vật tư y tế cho 2 bệnh xá của 2 xã ở Thanh Lương, Hà Nội và Hương Sơn Hà Tĩnh. Viện đã thực hiện 2 dự án phòng chống bỏng cho cộng đồng trên toàn quốc trị giá 2 tỷ đồng đã mang lại hiệu quả to lớn về dự phòng bỏng, hướng dẫn sơ cứu cấp cứu bỏng cho cộng đồng, được Bộ Y Tế, Bộ quốc Phòng và các cơ quan chức năng và cộng đồng đánh giá cao.
2.5. Các hoạt động từ thiện hỗ trợ bệnh nhân và gia đình bệnh nhân khó khăn trong bệnh viện và các hoạt động từ thiện với cộng đồng.
Duy trì hiệu quả “quỹ vì BN nghèo bị bỏng” mỗi năm quỹ này đã quyên góp và ủng hộ được khoảng 200 triệu đồng để hỗ trợ cho BN nghèo điều trị tại Viện. Ngoài ra viện đã chi khoảng 300 triệu đồng từ quỹ phúc lợi của Bệnh Viện để hỗ trợ cho các BN nghèo khó khăn tại Viện. Viện Bỏng cũng đã kêu gọi đựoc nhiều tổ chức từ thiện của sinh viên, của người dân tham gia làm từ thiện cho BN nghèo. Hàng tuần có các đội từ thiện của sinh viên vào cấp cháo dinh dưỡng miễn phí cho BN, tặng quà cho BN….điển hình vụ cháu bé bị bỏng điện cao thế, bị cắt cụt một chân, hai tay vì cứu bạn đã được kêu gọi ủng hộ rất hiệu quả. Tạo nên một phong trào làm việc nghĩa với xã hội.
2.6. Các hoạt động phong trào, đoàn thể phong trào đoàn TNCS Hồ Chi Minh.
Viện hết sức quan tâm đến mọi hoạt động của đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Bằng các hoạt động thiết thực như: Xây dựng nếp sống văn minh trong Viện, buồng bệnh thanh niên, vườn hoa thanh niên, cây xanh thanh niên…. Viện đã có nhiều hoạt động thường xuyên và hiệu quả. Trong năm Viện đã tổ chức ba giải thể thao lớn cho Thanh Niên, có sân bóng đá, có khu vui chơi và hoạt động thể thao dành cho thanh niên. Đội văn nghệ của Viện Bỏng mà nồng cốt là thanh niên là một đội văn nghệ mạnh, đạt được nhiều thành tích trong các hội diễn. Ngoài phong trào thanh niên Viện cũng đã chú trọng đến việc tổ chức và hoạt động của các đoàn thể khác như Hội phụ nữ, công đoàn Viện….tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn trong bệnh viện.
2.7. Các hoạt động bảo vệ môi trường:
2.7.1. Hệ thống xử lý chất thải của Bệnh viện.
Viện bỏng có hệ thống xử lý nước thải đồng bộ, hiện đại, tất cả nước thải điều được gom theo một hệ thống kín vào khu xử lý trung tâm, sau khi xử lý sạch mới được thải ra theo một hệ thống thoát nước chung của thành phố. Nước thải sau khi xử lý đã đạt tiêu chuẩn VN 7382 – 2004. Các cơ quan môi trường của thành phố luôn đánh giá cao việc xử lý nước thải của Viện bỏng. Về chất thải rắn Viện đã tuân thủ các quy định về thu gom, phân loại rác thải y tế, có khu vực gom rác thải. Viện đã ký hợp đồng với cơ quan môi trường để chuyên chở và xử lý rác thải mỗi ngày một lần. Không có hiện tượng bán các rác thải y tế cho tư nhân để tái chế không đúng quy định.
2.7.2. Các hoạt động bảo vệ môi trường do Viện phát động.
Tổ chức nhiều hoạt động vì môi trường: Tuần lễ xanh, sạch đẹp. Tháng vì môi trường…..Với nhiều hình thức: phát động vệ sinh vào chiều thứ năm hàng tuần, phong trào mỗi cán bộ nhân viên trồng và chăm sóc một cây xanh trong bệnh viện. Viện đã tổ chức nhiều cuộc nói chuyện tuyên truyền về môi trường và bảo vệ môi trường. Viện bỏng luôn là bệnh viện sạch nhất.
2.8. Bệnh viện không hút thuốc lá.
Tỷ lệ cán bộ nhân viên hút thuốc rất thấp (chỉ chiếm 8%). Trong giờ làm việc không có cán bộ công nhân viên nào được hút thuốc. Viện đã đưa vấn đề hút thuốc thành một chỉ tiêu thi đua khen thưởng hàng năm. Tất cả các khu vực công cộng của Viện đều có biển không hút thuốc và cảnh báo tác hại của thuốc lá. Thông qua các buổi sinh hoạt của người nhà BN và BN viện cũng đã tuyên truyền về tác hại của hút thuốc và khuyên BN và gia đình BN không hút thuốc. Tất cả các học sinh thực tập tại viện đều không được phép hút thuốc.
2.9. Bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trong bệnh Viện.
Viện có nhà ăn riêng cho cán bộ nhân viên, nhà ăn cho BN và nhà ăn cho gia đình BN. Thực phẩm và cách chế biến trong các bếp ăn đều được y tế cơ quan kiểm tra hằng ngày, có tủ lưu nghiệm thức ăn. Trong các thời gian có dịch Viện luôn cảnh báo và nhắc nhở gia đình BN không mua thức ăn ngoài bệnh viện. Trong nhiều năm qua và năm 2008 không hề xẩy ra bất kỳ vụ ngộ độc thức ăn nào tại Viện Bỏng.
2.10. Phòng tránh dịch bệnh trong bệnh viện.
Các hoạt động tuyên truyền phòng chống dịch bệnh trong Viện luôn được chú trọng. Mặc dù có các dịch lớn như: Dịch tả, dịch sốt xuất huyết hay H5N1, H1N1 diễn ra khá phức tạp nhưng cán bộ nhân viên trong Viện đã có tỷ lệ mắc thấp nhất (chỉ có 4 trường hợp xuất huyết / năm). Viện thường xuyên tổ chức phun thuốc khử trùng, thuốc muỗi….Có khu vực cách ly cho BN bị nhiễm các bênh có thể lây lan. Viện cũng đã phát tài liệu và truyền thông qua hệ thống truyền thanh và các bản điện tử về cách dự phòng và xử lý cho cán bộ nhân viên, khách thăm, bệnh nhân và người nhà về dịch bệnh. Do đó trong năm qua đã không có dịch xẩy ra trong Viện.
2.11. Các hoạt động khác cho Cộng đồng.
Viện Bỏng đã thực hiện thành công dự án “Tu bổ khu di tích Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác” tại Hương Sơn Hà Tĩnh. Đây là một dự án về văn hoá, lịch sử, tâm linh, du lịch sinh thái. Dự án đã góp phần thay đổi bộ mặt của một huyện vùng sâu, vùng xa nghèo, tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập cho nhiều người dân. Đặc biệt có ý nghĩa lớn về văn hoá, lịch sử và cội nguồn cho cộng đồng, được Bộ Y tế, Bộ quốc Phòng, Bộ văn hoá, tỉnh Hà Tĩnh, huyện Hương Sơn…đánh giá cao.
3. Các thành tích đã đạt được:
Thành tích chung: Đơn vị 2 lần anh hùng; Huân chương chiến công hạng Ba năm 2002; Huân chương lao động hạng Nhất năm 2004; Cờ thi đua đơn vị xuất sắc của Thủ Tướng năm 2004; Bằng khen của Thư tướng Chính phủ về thành tích ca ghép gan đầu tiên ở Việt Nam năm 2002; Nhiều bằng khen của Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng, Bộ khoa Học công nghệ. Riêng năm 2008: Cờ thi đua xuất sắc toàn diện của Bộ quốc phòng 2008; Bệnh Viện xuất sắc năm 2008 của Bộ Y tế (nhiều năm liền là Bệnh viện xuất sắc toàn diện). Bằng khen và cờ thưởng của công đoàn nghành Y tế; Đảng bộ trong sạch vững mạnh toàn diện; Công đoàn cơ sở được được tặng bắng khen là công đoàn cơ sở vững mạnh. Đoàn cơ sở được tặng bằng khen là Đoàn cơ sở vững mạnh.
Download hồ sơ Viện Bỏng Quốc Gia